HẠ KALI MÁU - ĐẶC ĐIỂM , BIẾN CHỨNG, ĐIỀU TRỊ VÀ PHÒNG NGỪA

ໂພເທສຊຽມຕໍ່ໍາ – ລັກສະນະ, ພາວະແຊກຊ້ອນ, ການປີ່ນປົວ ແລະ ການປ້ອງກັນ( Tiếng Việt ở dưới 👇)

ໂພເທສຊຽມຕໍ່ໍາ
ໂພເທສຊຽມ(Hypokalemia) ແມ່ນສະພາບທີ່ລະດັບໂພເທສຊຽມໃນເລືອດຕໍ່ໍາກວ່າ 3.5 mmol/L. ຕາມລະດັບການຫຼຸດລົງຂອງໂພເທສຊຽມ, ສາມາດແບ່ງເປັນພະຍາດໂພເທສຊຽມຕໍ່ໍາແບບເບົາ (3.0–3.5 mmol/L), ປານກາງ (2.5–3.0 mmol/L) ແລະ ໜັກ (< 2.5 mmol/L). ນີ້ແມ່ນຄວາມຜິດປົກກະຕິຂອງທາດເບື່ອໃນຮ່າງກາຍທີ່ພົບໄດ້ບໍ່ໜ້ອຍໃນຄົນເຈັບທີ່ນອນໂຮງໝໍ. ບໍ່ວ່າໂພເທສຊຽມສູງ ຫຼື ຕໍ່ໍາ, ທັງສອງຢ່າງສາມາດເຮັດໃຫ້ເກີດຄວາມຜິດປົກກະຕິຂອງຈັງຫວະເຕັ້ນຂອງຫົວໃຈ, ໂດຍທີ່ຄວາມຮຸນແຮງຂອງອາການຈະຂື້ນກັບລະດັບການຜິດປົກກະຕິຂອງທາດເບື່ອໃນຮ່າງກາຍ. ຖ້າບໍ່ໄດ້ຮັບການຮັກສາທັນເວລາ, ໂພເທສຊຽມອາດນໍາໄປສູ່ພະຍາດແຊກຊ້ອນທີ່ອັນຕະລາຍ ແລະ ເສຍຊີວິດ, ພິເສດໃນຄົນເຈັບທີ່ເປັນພະຍາດຫົວໃຈ ຫຼື ກໍາລັງໃຊ້ຢາເຊັ່ນ digoxin.

ສາເຫດຂອງໂພເທສຊຽມຕໍ່ໍາມີຫຼາຍຢ່າງ: ສ່ວນໃຫຍ່ເກີດຈາກການເສຍໂພເທສຊຽມຜ່ານໄຂ່ຫຼັງ (ໃຊ້ຢາຂັບປັດສະວະ, ປັດສະວະຫຼາຍຫຼັງຈາກແກ້ໄຂການອຸດຕັນໃນທາງປັດສະວະ, ພະຍາດໄຂ່ຫຼັງອັກເສບຊ້ຳເຮື້ອ, ການແຂງຕົວ aldosteron, ພະຍາດລົດແມກນີຊ່ຽມໃນເລືອດ, ຫຼື ກຸ່ມອາການ Liddle, Bartter, Gitelman) ຫຼື ເສຍໂພເທສຊຽມຜ່ານທາງລໍາໄສ້ (ຖອກທ້ອງ, ໃຊ້ຢາລະບາຍເກີນ, ຮູຮົ່ວລໍາໄສ້, ເນື້ອງອກບາງຊະນິດທີ່ຫຼັ່ງຮໍໂມນ). ນອກຈາກນັ້ນ ການເສຍໂພເທສຊຽມອາດຖືກດຶງເຂົ້າໄປໃນເຈຸລັງເນື່ອງຈາກການໃຊ້ຢາກະຕຸ້ນ β2, theophylline, cafein, insulin ຫຼື ຈາກພະຍາດເລືອດດ່າງ. ການຫຼຸດການສະໜອງໂພເທສຊຽມທາງສານອາຫານອາດບໍ່ແມ່ນສາເຫດຫຼັກ, ແຕ່ອາດມີຜົນສຳລັບຜູ້ທີ່ມີບັນຫາການຮັບປະທານອາຫານບໍ່ໄດ້ດີແກ່ຍາວ.

ອາການຂອງໂພເທສຊຽມຕໍ່ໍາຂື້ນກັບລະດັບ ແລະ ຄວາມໄວໃນການຫຼຸດລົງ. ຖ້າໂພເທສຊຽມຕໍ່ໍາ 3.0–3.5 mmol/L ມັກບໍ່ມີອາການຊັດເຈນ. ຖ້າຫຼຸດລົງຫາ 2.5–3.0 mmol/L ອາດມີອາການອ່ອນເພຍກ້າມເນື້ອ, ເມື່ອຍລ້າ, ອໍາມະພາດແຂນຂາ, ອໍາມະພາດລໍາໄສ້ (ທ້ອງແຂງ), ມືນຊາມືຕີນ, ຕະຄິວ, ການສະທ້ອນເສັ້ນເອັນຫຼຸດລົງ. ຖ້າຕໍ່ໍາກວ່າ 2.5 mmol/L ຈະມີຄວາມສ່ຽງສູງກັບພາວະສະຫຼາຍກ້າມເນື້ອ ແລະ ຈັງຫວະຫົວໃຈເຕັ້ນຜິດຈັ່ງຫວະປົກກະຕິຮ້າຍແຮງ. ໃນຄື້ນຫົວໃຈປົກກະຕິອາດເຫັນຄື່ນ T ຕໍ່ໍາ, ໄລຍະ ST ຕໍ່ໍາລົງ, PR ຍາວຂຶ້ນ, ຄື່ນ U ໂດດເດັ່ນ, ຊ່ວງ QT (ຫຼື QU) ຍາວຂຶ້ນ; ຄວາມຜິດປົກກະຕິຈັງຫວະການເຕັ້ນອາດລວມໄປເຖີງຫົວໃຈເບື້ອງເທີງເຕັ້ນນອກລະບົບ, ການເຕັ້ນນອກລະບົບຂອງຫ້ອງຫົວໃຈເບື້ອງລຸ່ມ, ການເຕັ້ນໄວຂອງຫ້ອງລຸ່ມ, Torsades de pointes ຫຼື ການເຕັ້ນຂອງຫົວໃຈຫ້ອງລຸ່ມຜິດຈັ່ງຫວະ. ນອກຈາກນີ້ ໂພເທສຊຽມຕໍ່ໍາຍັງສາມາດເຮັດໃຫ້ເກີດພະຍາດປັດສະວະຈາງຍ້ອນໄຂ່ຫຼັງ, ພະຍາດເລືອດດ່າງ ແລະ ການຂັບຄລໍໄອອອນເພີ່ມຂຶ້ນ.

ການຮັກສາຈໍາເປັນຕ້ອງແກ້ໄຂສາເຫດ ແລະ ຊົດເຊີຍປະລິມານໂພເທສຊຽມທີ່ຂາດໄປ. ການເພີ່ມໂພເທສຊຽມດ້ວຍການດື່ມ ແມ່ນວິທີທີ່ຖືກເລືອກສໍາລັບກໍລະນີເບົາ ແລະ ປານກາງ; ສໍາລັບກໍລະນີຫນັກ ຫຼື ມີຈັງຫວະການເຕັ້ນຂອງຫົວໃຈຜິດປົກກະຕິຮ້າຍແຮງ, ຈໍາເປັນຕ້ອງເພີ່ມຜ່ານທາງເສັ້ນເລືອດ ດ້ວຍອັດຕາ ແລະ ປະລິມານທີ່ມີການຄວບຄຸມຢ່າງເຂັ້ມງວດ. ໃນຊ່ວງການຮັກສາ ຈໍາເປັນຕ້ອງຕິດຕາມການປ່ຽນແປງທາດເບື່ອໃນເລືອດ, ຄື້ນໄຟຟ້າຫົວໃຈ ແລະ ປະເມີນການເຮັດວຽກຂອງໄຂ່ຫຼັງ. ຖ້າມີການຂາດແມກນີຊ່ຽມໃນເລືອດ, ຈໍາເປັນຕ້ອງເພີ່ມແມກນີຊ່ຽມເພື່ອໃຫ້ການຊົດເຊີຍໂພເທສຊຽມໄດ້ຜົນດີຂຶ້ນ.

ການປ້ອງກັນ ປະກອບດ້ວຍການຫຼີກລ້ຽງການໃຊ້ຢາຂັບປັດສະວະ ແລະ ຢາລະບາຍເກີນຈໍາເປັນ, ຮັກສາພະຍາດທີ່ເຮັດໃຫ້ຖອກທ້ອງ ຫຼື ຮາກເປັນເວລານານ, ຄວບຄຸມການຜິດປົກກະຕິຂອງລະບົບຕ່ອມ ແລະ ພະຍາດໄຂ່ຫຼັງ, ພ້ອມກັບຮັບປະທານອາຫານທີ່ມີໂພເທສຊຽມເຊັ່ນ ກ້ວຍ, ໝາກກ້ຽງ, ໝາກອະໂວກາໂດ, ມັນຝຣັ່ງ, ຜັກຂຽວ. ສໍາລັບຄົນທີ່ກໍາລັງໃຊ້ຢາທີ່ມີຜົນກະທົບຕໍ່ໂພເທສຊຽມ ຫຼື ມີພະຍາດຊ້ຳເຮື້ອ, ຄວນກວດເລືອດເບີ່ງທາດເບື່ອໃນຮ່າງກາຍເປັນປະຈໍາ. ຖ້າສາເຫດຂອງພະຍາດໂພເທສຊຽມຕ່ຳໄດ້ຮັບການບົ່ງມະຕິ ແລະ ປີ່ນປົວເດັດຂາດ, ພະຍາດສາມາດປີ່ນປົວໃຫ້ຫາຍຂາດໄດ້, ສຳລັບຄົນເຈັບທີ່ມີອາການຊ້ຳເຮື້ອຫຼື ບໍ່ສາມາດຫຼີກລ້ຽງປັດໃຈຄວາມສ່ຽງ, ອາການອາດກັບມາເປັນອີກ, ຕ້ອງໄດ້ຕິດຕາມ ແລະ ເພີ່ມໂພເທສຊຽມເປັນປະຈຳ.

------------------------------------------------------------------
Hạ kali máu – Đặc điểm, biến chứng, điều trị và phòng ngừa

Hạ kali máu là tình trạng nồng độ kali trong huyết tương thấp hơn 3,5 mmol/L. Tùy mức độ giảm kali, có thể chia thành hạ kali máu nhẹ (3,0–3,5 mmol/L), trung bình (2,5–3,0 mmol/L) và nặng (< 2,5 mmol/L). Đây là một rối loạn điện giải thường gặp ở bệnh nhân nằm viện. Dù tăng hay hạ kali máu, cả hai đều có thể gây ra rối loạn nhịp tim, trong đó mức độ rối loạn nhịp phản ánh trực tiếp mức độ nặng của tình trạng điện giải. Hạ kali máu nếu không được xử trí kịp thời có thể dẫn tới biến chứng nguy hiểm và tử vong, đặc biệt ở người có bệnh tim hoặc đang dùng các thuốc như digoxin.

Nguyên nhân của hạ kali máu khá đa dạng. Phần lớn là do mất kali qua thận (sử dụng thuốc lợi tiểu, đái nhiều sau giải phóng tắc nghẽn đường tiết niệu, bệnh thận kẽ, cường aldosteron, giảm magiê máu, các hội chứng như Liddle, Bartter, Gitelman) hoặc mất kali qua đường tiêu hóa (tiêu chảy, lạm dụng thuốc nhuận tràng, rò ruột, một số khối u tiết hormon). Ngoài ra, kali có thể bị dịch chuyển vào trong tế bào do sử dụng thuốc kích thích β2, theophyllin, cafein, insulin hoặc do tình trạng nhiễm kiềm máu. Giảm cung cấp kali qua chế độ ăn hiếm khi là nguyên nhân chính, nhưng có thể góp phần ở người ăn uống kém kéo dài.

Triệu chứng của hạ kali máu phụ thuộc mức độ và tốc độ giảm kali. Khi kali máu 3,0–3,5 mmol/L, bệnh nhân thường không có biểu hiện rõ. Khi giảm xuống 2,5–3,0 mmol/L, có thể xuất hiện yếu cơ, mệt mỏi, liệt chi, liệt ruột (bụng chướng), tê bì, chuột rút, giảm phản xạ gân xương. Ở mức dưới 2,5 mmol/L, bệnh nhân có nguy cơ cao bị tiêu cơ vân và rối loạn nhịp tim nặng. Điện tim thường cho thấy sóng T dẹt, đoạn ST chênh xuống, PR kéo dài, sóng U nổi bật, QT (hoặc QU) kéo dài; các rối loạn nhịp có thể gồm ngoại tâm thu nhĩ, ngoại tâm thu thất, nhịp nhanh thất, xoắn đỉnh hoặc rung thất. Ngoài ra, hạ kali máu có thể gây đái tháo nhạt do thận, kiềm chuyển hóa và tăng thải clo.

Điều trị hạ kali máu cần đồng thời giải quyết nguyên nhân và bù lại lượng kali thiếu hụt. Bổ sung kali đường uống là lựa chọn ưu tiên cho các trường hợp nhẹ và trung bình; trong trường hợp nặng hoặc có rối loạn nhịp nguy hiểm, cần bù kali qua đường tĩnh mạch với tốc độ và liều được kiểm soát chặt chẽ. Trong suốt quá trình điều trị, phải theo dõi sát điện giải đồ, điện tim và đánh giá chức năng thận. Nếu có kèm hạ magiê máu, cần bổ sung magiê để cải thiện hiệu quả bù kali.

Phòng ngừa hạ kali máu bao gồm hạn chế lạm dụng thuốc lợi tiểu và thuốc nhuận tràng, điều trị triệt để các bệnh lý gây tiêu chảy hoặc nôn ói kéo dài, kiểm soát tốt các rối loạn nội tiết và bệnh thận, đồng thời duy trì chế độ ăn giàu kali từ thực phẩm như chuối, cam, bơ, khoai tây, rau xanh. Với những người đang điều trị bằng thuốc ảnh hưởng đến kali hoặc có bệnh lý mạn tính, cần xét nghiệm điện giải định kỳ để phát hiện và xử trí sớm.

Nếu nguyên nhân gây hạ kali máu được xác định và điều trị triệt để, bệnh hoàn toàn có thể khỏi hẳn. Tuy nhiên, ở những bệnh nhân có nguyên nhân mạn tính hoặc không thể loại bỏ hoàn toàn yếu tố nguy cơ, tình trạng này có thể tái phát và đòi hỏi theo dõi, bổ sung kali định kỳ.
-------------------------------------------------------------------
🏥 HANOI - VIENTIANE HOSPITAL
📶No. 309&400, Kaysone Phomvihan avenue, Chommany, Saysettha, Vientiane capital
☎Phone: 030.9966999
☎Whatsapp: 020 91 393 939

Other news

Đội phản ứng nhanh về đột quỵ

Đội phản ứng nhanh về đột quỵ

Đó là đội phản ứng nhanh về đột quỵ được Bệnh viện Đà Nẵng thành lập 3 năm nay. Khoảng 7g20 một buổi sáng cuối tháng 7, khoa cấp cứu Bệnh viện Đà Nẵng...

Cách phòng ngừa bệnh trĩ hiệu quả

Cách phòng ngừa bệnh trĩ hiệu quả

Có rất nhiều người mắc bệnh trĩ và phần lớn đều coi nhẹ bệnh này cho đến khi bệnh phát triển đến giai đoạn muộn khi trĩ phình to, thòi ra ngoài hậu...